Trang chủ » GIỚI THIỆU » LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN

Năm 1963 chuyên ngành Kinh tế xây dựng đã được hình thành, nằm trong Khoa Kỹ sư Kinh tế của Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Năm 1965, Bộ môn Kinh tế và Tổ chức xây dựng được thành lập.

Ngày 08/08/1966, khi Khoa Xây dựng của Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội được tách ra để thành lập trường Đại học Xây dựng thì Bộ môn Kinh tế và Tổ chức xây dựng cũng được tách khỏi Khoa Kỹ sư Kinh tế Đại học Bách Khoa Hà Nội để trở thành một bộ phận nằm trong Khoa Xây dựng của Trường Đại học Xây dựng.

Tháng 7 năm 1967, Bộ môn Kinh tế và Tổ chức Xây dựng được tách khỏi Khoa Xây dựng và cùng với bộ phận đào tạo tại chức của Trường Địa học Xây dựng lập thành Khoa Kinh tế – Tại chức của trường. Cuối năm 1968, Khoa Kỹ sư Kinh tế Xây dựng được thành lập tại thôn Mao Trung, xã Phượng Mao, huyện Quế Võ, tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Ninh) với cơ cấu gồm 03 bộ môn: Bộ môn Kinh tế xây dựng; Bộ môn Kinh tế nghiệp vụ và Bộ môn Tổ chức – Kế hoạch.

Từ khi thành lập đến nay, Khoa đã trải qua những lần đổi tên để phù hợp với điều kiện cụ thể từng thời kỳ:

– Khoa Kỹ sư Kinh tế xây dựng (1968 – 1986)

– Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh xây dựng (1986 – 1991)

– Khoa Kinh tế xây dựng (1991 – 2008)

– Khoa Kinh tế và Quản lý xây dựng (Tháng 4/2008 đến nay)

Khoa Kinh tế và Quản lý xây dựng của Trường Đại học Xây dựng đã có bề dày truyền thống 55 năm đào tạo với 03 chuyên ngành: Kỹ sư Kinh tế Xây dựng; Kỹ sư Kinh tế & Quản lý đô thị; Kỹ sư Kinh tế & Quản lý Bất động sản (Bắt đầu đào tạo từ tháng 09/2012) đã cung cấp cho xã hội đội ngũ cán bộ kỹ thuật có năng lực chuyên môn cao, có kiến thức xã hội sâu rộng và có bản chất chính trị vững vàng, có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

Đội ngũ cán bộ của Khoa Kinh tế và Quản lý xây dựng ngày càng được bổ sung và trưởng thành. Năm 2018, Khoa có 62 cán bộ viên chức, trong đó có 48 cán bộ giảng viên làm việc tại Khoa, 04 giảng viên làm công tác kiêm nhiệm trong trường và 10 giảng viên đã nghỉ hưu ký hợp đồng thỉnh giảng. Về chức danh nghề nghiệp có 11 GVCC; 14 GVC và 34 GV (Trong đó có 03 GS; 07 PGS; 02 NGND và 03 NGƯT).

EnglishVietnamese